NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỐI HỢP CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRONG CÔNG TÁC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ – THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

10/07/2026, 16:35

Trong 6 tháng đầu năm, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 2 đã thực hiện: 328 người/328 vụ việc TGPL. Trong đó TGPL cho các đối tượng thuộc diện TGPL như sau: Người nghèo: 07 người, Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị buộc tội: 48 người, Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo: 04 người, Người cao tuổi: 26 người, Người DTTS cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn: 79 người, Người khuyết tật: 21 người, Trẻ em: 90 người, Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại: 07 người, Người có công cách mạng: 07 người, Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác: 39 người thuộc các lĩnh vực: Hình sự: 279 vụ, Dân sự: 33 vụ, Hành chính: 04 vụ, Hôn nhân – Gia đình: 01 vụ, Đất đai: 10 vụ, Ưu đãi – Chính sách: 01 vụ.

Hình ảnh minh họa

Công tác phối hợp giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 2 và UBND cấp xã tiếp tục được duy trì, nhất là trong các hoạt động truyền thông về TGPL, tư vấn pháp luật tại cơ sở, phối hợp rà soát người thuộc diện được TGPL, giới thiệu người dân có nhu cầu đến Trung tâm, Chi nhánh hoặc Trợ giúp viên pháp lý. Nhiều UBND cấp xã đã quan tâm phối hợp tổ chức truyền thông về TGPL tại thôn, buôn, khu phố, trường học, hội nghị tuyên truyền pháp luật, sinh hoạt cộng đồng. Qua đó, người dân từng bước biết đến quyền được TGPL miễn phí khi thuộc diện theo quy định của pháp luật. Một số địa phương đã phối hợp tốt trong việc cung cấp thông tin, xác nhận hoàn cảnh, giới thiệu người dân thuộc diện TGPL đến Trung tâm khi phát sinh tranh chấp dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình, khiếu nại, tố cáo, vụ việc hình sự, vụ việc liên quan đến trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số. UBND cấp xã, công chức tư pháp – hộ tịch, công chức văn hóa – xã hội, công chức phụ trách tiếp công dân, hòa giải viên ở cơ sở, trưởng thôn, buôn, khu phố đã từng bước trở thành lực lượng hỗ trợ quan trọng trong việc phát hiện nhu cầu TGPL ngay từ cơ sở. Một số xã đã tạo điều kiện về địa điểm, thông báo cho người dân, phối hợp bảo đảm thành phần tham dự khi Trung tâm tổ chức truyền thông, tư vấn pháp luật, TGPL tại cơ sở. Việc ứng dụng công nghệ thông tin bước đầu được quan tâm thông qua niêm yết số điện thoại đường dây nóng, mã QR, Zalo OA, website, fanpage hoặc các kênh thông tin điện tử để người dân dễ tiếp cận thông tin về TGPL.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn phối hợp vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như: (1) Nhận thức về TGPL ở một số địa phương chưa thật đầy đủ. Có nơi còn hiểu TGPL chỉ là hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật hoặc có nơi lại cho rằng đây là nhiệm vụ riêng của Trung tâm Trợ giúp pháp lý, chưa thấy hết vai trò phối hợp của chính quyền cơ sở; (2) Việc phát hiện, giới thiệu người thuộc diện được TGPL chưa thường xuyên. Một số trường hợp người dân thuộc diện được TGPL nhưng không biết quyền của mình, đến khi vụ việc đã phức tạp, hết thời hạn khiếu nại, hết thời hiệu khởi kiện hoặc đã bước sâu vào quá trình tố tụng mới tiếp cận được TGPL; (3) Thông tin về TGPL tại một số trụ sở UBND cấp xã, bộ phận một cửa, nơi tiếp công dân, nhà văn hóa thôn, buôn, khu phố chưa được niêm yết đầy đủ, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ sử dụng; (4) Đầu mối phối hợp ở cấp xã có nơi chưa rõ. Khi Trung tâm cần trao đổi nhanh về một trường hợp cụ thể thì việc kết nối còn phụ thuộc vào quan hệ công tác, chưa hình thành cơ chế ổn định; (5) Đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ, áp lực công việc lớn, nhất là trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp đơn vị hành chính, tăng yêu cầu giải quyết công việc trực tiếp với người dân. Vì vậy, nếu không có cách làm gọn, dễ thực hiện, công tác phối hợp TGPL dễ bị xem là nhiệm vụ phát sinh thêm.

Từ thực tiễn nêu trên, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 2 đề xuất một số nhóm giải pháp sau:

Xác định rõ vai trò của UBND cấp xã là điểm chạm đầu tiên trong công tác trợ giúp pháp lý: UBND cấp xã không thực hiện thay chức năng của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhưng có vai trò rất quan trọng trong việc giúp người dân “biết đúng, đến đúng, được hỗ trợ đúng”. Cấp xã là nơi tiếp nhận ban đầu nhiều vấn đề của người dân như: tranh chấp đất đai, mâu thuẫn gia đình, bạo lực gia đình, khiếu nại, tố cáo, hộ tịch, hộ khẩu, chính sách xã hội, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số. Vì vậy, cần thống nhất nhận thức rằng, khi phát hiện người dân thuộc diện TGPL có vụ việc pháp luật, UBND cấp xã cần kịp thời giới thiệu, hướng dẫn hoặc kết nối với Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Đây không phải là việc làm thay Trung tâm mà là trách nhiệm phối hợp nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân.

Thiết lập đầu mối phối hợp trợ giúp pháp lý tại UBND cấp xã: Mỗi UBND cấp xã nên phân công một đầu mối phụ trách phối hợp TGPL, có thể là công chức tư pháp – hộ tịch hoặc công chức được giao nhiệm vụ phù hợp. Đầu mối này không làm phát sinh tổ chức mới, không tăng biên chế, không tạo thêm thủ tục hành chính, mà chỉ nhằm bảo đảm khi có vụ việc phát sinh thì Trung tâm và xã có người liên hệ trực tiếp. Đầu mối phối hợp có thể thực hiện các việc cơ bản như: tiếp nhận thông tin ban đầu, hướng dẫn người dân liên hệ Trung tâm, phối hợp xác nhận hoặc cung cấp thông tin cần thiết theo quy định, tham mưu niêm yết thông tin TGPL, phối hợp tổ chức truyền thông tại địa phương.

Tăng cường truyền thông trợ giúp pháp lý tại cơ sở theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp cận: Truyền thông TGPL không nên chỉ dừng lại ở hội nghị tập trung, mà cần đưa thông tin đến nơi người dân thường xuyên tiếp xúc như: bộ phận một cửa, nơi tiếp công dân, nhà văn hóa thôn, buôn, khu phố, trường học, điểm sinh hoạt cộng đồng, các buổi họp dân, sinh hoạt chi hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội nông dân, hội người cao tuổi. Nội dung truyền thông cần trả lời được 4 câu hỏi đơn giản: Ai được TGPL? Được giúp những việc gì? Liên hệ ở đâu? Cần giấy tờ gì? Nếu người dân chỉ nghe một lần mà vẫn không nhớ được cách liên hệ thì hoạt động truyền thông chưa đạt yêu cầu. Trung tâm sẽ phối hợp cung cấp tờ gấp, bảng thông tin, số điện thoại đường dây nóng, mã QR, đường dẫn website, Zalo OA, fanpage để UBND cấp xã niêm yết và phổ biến.

Phối hợp rà soát, phát hiện sớm người thuộc diện được TGPL: Cấp xã là nơi quản lý, nắm bắt rõ các nhóm đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, nạn nhân bạo lực gia đình, người có hoàn cảnh đặc biệt. Đây là lợi thế rất lớn trong công tác phát hiện người thuộc diện TGPL. Trung tâm đề xuất UBND cấp xã khi tiếp nhận hoặc nắm bắt vụ việc có yếu tố pháp lý cần đặt thêm một câu hỏi: “Người này có thuộc diện được TGPL không?”. Chỉ cần câu hỏi này được đặt ra thường xuyên thì sẽ hạn chế rất nhiều trường hợp người dân thuộc diện nhưng bị bỏ lỡ quyền được TGPL.

Niêm yết công khai, đồng bộ thông tin trợ giúp pháp lý: UBND cấp xã cần phối hợp niêm yết công khai thông tin về TGPL tại trụ sở, bộ phận một cửa, nơi tiếp công dân, nhà văn hóa thôn, buôn, khu phố. Nội dung niêm yết cần ngắn gọn, dễ nhìn, có số điện thoại của Trung tâm, Chi nhánh, Trợ giúp viên pháp lý phụ trách địa bàn, mã QR, địa chỉ website hoặc Zalo OA. Đối với địa bàn có đông người dân tộc thiểu số, cần nghiên cứu hình thức truyền thông phù hợp hơn như truyền thanh cơ sở, hình ảnh trực quan, thông tin qua trưởng thôn, người có uy tín, già làng, chức sắc tôn giáo, hòa giải viên cơ sở.

Phối hợp trong từng vụ việc cụ thể: Khi người dân có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, vụ việc tố tụng hoặc cần tư vấn pháp luật, UBND cấp xã cần chủ động hướng dẫn người dân liên hệ Trung tâm nếu họ thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Đối với vụ việc khẩn cấp, sắp hết thời hiệu, sắp xét xử, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì cần kết nối ngay với Trung tâm qua điện thoại, Zalo hoặc văn bản điện tử. Trong trường hợp cần xác nhận thông tin về cư trú, hộ nghèo, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình hoặc các thông tin khác có liên quan, UBND cấp xã phối hợp cung cấp theo đúng thẩm quyền, đúng quy định, bảo đảm nhanh chóng, chính xác, tránh để người dân đi lại nhiều lần.

Tập huấn kỹ năng nhận diện đối tượng được TGPL cho cán bộ cấp xã: Trung tâm đề xuất Sở Tư pháp quan tâm chỉ đạo tổ chức các lớp tập huấn ngắn, thực chất, dễ áp dụng cho công chức tư pháp – hộ tịch, cán bộ tiếp công dân, cán bộ làm công tác xã hội, hòa giải viên cơ sở, trưởng thôn, buôn, khu phố. Nội dung tập huấn cần tập trung vào kỹ năng thực hành như: nhận diện người được TGPL, nhận diện vụ việc cần chuyển Trung tâm, hướng dẫn giấy tờ ban đầu, cách liên hệ nhanh, cách phối hợp truyền thông, cách xử lý trường hợp người dân chưa có đủ giấy tờ chứng minh nhưng vụ việc cần được hỗ trợ kịp thời.

Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin nhanh giữa Trung tâm và UBND cấp xã: Trong giai đoạn mới, cần chuyển từ cách phối hợp thụ động sang phối hợp chủ động, nhanh và linh hoạt. Trung tâm đề xuất thiết lập danh sách đầu mối phối hợp giữa Trung tâm và UBND cấp xã. Thành lập nhóm liên hệ công vụ qua Zalo hoặc kênh phù hợp. Định kỳ cập nhật số điện thoại, địa chỉ, lịch trực, địa bàn phụ trách của Trợ giúp viên pháp lý. Cơ chế này phải bảo đảm nguyên tắc: nhanh nhưng đúng quy định, hỗ trợ người dân nhưng vẫn bảo mật thông tin vụ việc và tôn trọng quyền riêng tư của người được TGPL.

Đưa kết quả phối hợp trợ giúp pháp lý thành một nội dung trong đánh giá công tác tư pháp ở cơ sở: Để công tác phối hợp đi vào nền nếp, cần xem kết quả phối hợp TGPL là một nội dung trong đánh giá công tác tư pháp ở cơ sở. Nội dung đánh giá không nên nặng về số lượng hình thức mà tập trung vào những tiêu chí thiết thực như: có niêm yết thông tin TGPL hay không, có đầu mối phối hợp hay không, có giới thiệu vụ việc cho Trung tâm hay không, có phối hợp truyền thông hay không, có hỗ trợ xác nhận thông tin đúng thời hạn hay không. Cách đánh giá này không nhằm tạo áp lực cho cấp xã mà nhằm ghi nhận trách nhiệm, khuyến khích địa phương làm tốt, đồng thời phát hiện những điểm còn vướng để Trung tâm và Sở Tư pháp kịp thời hỗ trợ.

Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu phục vụ người dân tại cơ sở ngày càng cao. Công tác TGPL cũng cần đổi mới theo hướng gần dân hơn, nhanh hơn, dễ tiếp cận hơn và gắn với chuyển đổi số: (1) Tiếp tục xác định UBND cấp xã là đối tác phối hợp thường xuyên, trực tiếp và quan trọng của Trung tâm Trợ giúp pháp lý trong việc đưa chính sách TGPL đến với người dân; (2) Xây dựng mô hình phối hợp theo địa bàn, mỗi Trợ giúp viên pháp lý phụ trách, theo dõi, hỗ trợ một số xã, phường nhất định; định kỳ trao đổi thông tin với đầu mối của UBND cấp xã; (3) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền thông TGPL: mã QR, Zalo OA, website, fanpage, video ngắn, tài liệu điện tử, đường dây nóng, biểu mẫu hướng dẫn đơn giản; (4) Ưu tiên truyền thông TGPL cho nhóm người yếu thế, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, nơi người dân ít có điều kiện tiếp cận dịch vụ pháp lý; (5) Tăng cường phối hợp giữa TGPL với phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ trẻ em, phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống mua bán người; (6) Từng bước hình thành cơ sở dữ liệu, danh sách địa bàn, nhóm đối tượng, vụ việc điển hình để chủ động truyền thông, phòng ngừa rủi ro pháp lý cho người dân; (7) Xây dựng và hoàn thiện văn hóa tiếp cận pháp luật tại cở sở trong giai đoạn chuyển đổi số./.

Khánh Duy